Một ngày trong lịch vạn niên có bốn lớp thông tin: can chi, trực, thần trực ngày và nhị thập bát tú. Hiểu bốn lớp đó là đọc được mọi cuốn lịch.
Mở một trang lịch vạn niên ra, người mới xem thường thấy một mớ chữ Hán Việt không biết bắt đầu từ đâu. Thật ra chỉ có bốn lớp, và mỗi lớp trả lời một câu khác nhau.
Mỗi ngày mang một cặp can chi, ví dụ Giáp Thân. Cặp này xoay vòng theo chu kỳ sáu mươi ngày, gọi là lục thập hoa giáp. Can chi ngày là gốc để suy ra tuổi xung của ngày đó — tuổi xung chính là cặp can chi đối diện trên vòng.
Mười hai vị thần luân phiên cai quản từng ngày. Sáu vị được coi là tốt — Thanh Long, Minh Đường, Kim Quỹ, Bảo Quang (Thiên Đức), Ngọc Đường, Tư Mệnh — ngày do sáu vị này cai quản gọi là ngày Hoàng Đạo. Sáu vị còn lại — Thiên Hình, Chu Tước, Bạch Hổ, Thiên Lao, Nguyên Vũ, Câu Trần — cho ra ngày Hắc Đạo.
Đây là chỗ hay bị nói sai nhất: nhiều nơi suy Hoàng Đạo từ trực. Hai cái đó là hai hệ thống khác nhau, trộn vào là sai phần lớn số ngày.
Trực là Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu, Khai, Bế. Mỗi trực hợp với một số việc và kỵ một số việc khác — ví dụ trực Khai hợp khởi sự, trực Bế hợp lấp, đắp, đóng lại.
Một chi tiết kỹ thuật ít nơi nói: trực tính theo tháng tiết khí, không phải tháng âm lịch. Hai mốc này lệch nhau có khi tới nửa tháng.
Hai mươi tám ngôi sao xoay vòng theo tuần, mỗi ngày một sao, ví dụ Tất Nguyệt Ô. Vì hai mươi tám chia hết cho bảy nên mỗi sao luôn rơi vào cùng một thứ trong tuần. Mỗi sao có sở trường riêng: sao hợp cưới hỏi, sao hợp xây cất, sao kỵ chôn cất.
Nếu chỉ có một phút, thứ tự xem hợp lý là: Hoàng Đạo hay Hắc Đạo → tuổi xung có phải tuổi mình không → việc mình định làm có nằm trong mục nên tránh không. Ba câu đó đã lọc được phần lớn trường hợp.
Xem cụ thể từng ngày ở lịch âm theo ngày, hoặc xem ngay hôm nay.